Đăng lúc: 04/05/2024 08:54:20 AM
Tình trạng lừa đảo chiếm đoạt tài sản hiện nay đang gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho xã hội và kinh tế. Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi phạm tội liên quan đến việc sử dụng thủ đoạn gian lận, lừa dối để chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái pháp luật. Vậy đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền nhưng đã trả lại có bị đi tù không? Để làm rõ hơn về vấn đề này, cùng Luật Mạnh Thăng giải đáp ngay!

Căn cứ theo Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác, người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Do đó, trường hợp trên với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt 500 triệu đồng đã phạm Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) và sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội này với mức hình phạt tù từ 12-20 năm hoặc tù chung thân.
Bên cạnh đó, theo Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2021) quy định về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại như sau:
“1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 của Bộ Luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.
2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.
3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.”
Như vậy, theo các quy định trên, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không được liệt kê vào các tội khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại nên cho dù người phạm tội đã trả hết số tiền cho người bị hại và người bị hại có rút đơn khởi kiện đi nữa thì cơ quan điều tra vẫn sẽ tiến hành khởi tố theo đúng quy định về tố tụng hình sự.
Tuy nhiên, hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng chủ động trả lại cho bị hại và được bị hại rút đơn kiện là một trong những hành vi tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả nên đây được xem là tình tiết giảm nhẹ trong vụ án hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Nếu khách hàng có bất kỳ khó khăn, vướng mắc xin vui lòng liên hệ ngay với chúng tôi theo thông tin dưới đây để được tư vấn, hỗ trợ.
CÔNG TY LUẬT MẠNH THĂNG
Địa chỉ: Số 9 Nguyễn Cửu Đàm, Phường Tân Sơn Nhì, Quận Tân Phú, TP. HCM
Email: luatmanhthang09@gmail.com
Wedsite: luatmanhthang.vn
Hotline: 0909.528.082
- Dùng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả để lừa đảo bị xử lý như thế nào? (04.04.2025)
- Chồng lén bán đất chung – vợ có đòi lại được không? (04.04.2025)
- Dịch vụ thừa kế lập di chúc và khai nhận di sản - Luật Mạnh Thăng (04.04.2025)
- Dịch vụ luật sư tư vấn – soạn thảo đơn ly hôn uy tín tại TP. Hồ Chí Minh (10.04.2025)
- Những trường hợp không được đơn phương ly hôn (10.04.2025)
- Thủ tục ly hôn đơn phương khi không biết địa chỉ của vợ hoặc chồng – TẠI LUẬT MẠNH THĂNG (10.04.2025)
- Thủ tục, hồ sơ mở công ty mới nhất 2025 (16.04.2025)
- Lừa dối khách hàng thu lợi bất chính có bị phạt tù không? (16.04.2025)
- Có thể nhờ luật sư khi bị bắt vì liên quan đến ma túy không? (16.04.2025)
- Ly hôn thuận tình bao lâu là xong? – dịch vụ ly hôn trọn gói nhanh gọn tại LUẬT MẠNH THĂNG (19.04.2025)
- Ôm tiền hụi bỏ trốn có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không? (19.04.2025)
- Cho vay tiền nhưng lúc vay không ký giấy nợ thì có đòi nợ được không? (19.04.2025)














