Đăng lúc: 25/12/2024 08:57:30 AM
Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng, gây ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của cá nhân và tổ chức. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là nếu người thực hiện hành vi đã hoàn trả tài sản thì liệu có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không? Hãy cùng LUẬT MẠNH THĂNG tìm hiểu vấn đề này dưới góc nhìn pháp lý.

Căn cứ theo Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác, người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Bên cạnh đó, theo Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2021) quy định về Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại như sau:
“1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 của Bộ Luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.
2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.
3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.”
Như vậy, Theo các quy định trên, Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không được liệt kê vào các tội khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại nên cho dù người phạm tội đã trả hết số tiền cho người bị hại và người bị hại có rút đơn khởi kiện đi nữa thì cơ quan điều tra vẫn sẽ tiến hành khởi tố theo đúng quy định về tố tụng hình sự.
Tuy nhiên, hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng chủ động trả lại cho bị hại và được bị hại rút đơn kiện là một trong những hành vi tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả nên đây được xem là tình tiết giảm nhẹ trong vụ án hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Do đó, việc trả lại tài sản đã chiếm đoạt không đồng nghĩa với việc thoát khỏi trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, nhờ sự trợ giúp từ luật sư, bạn có thể bảo vệ quyền lợi của mình và giảm thiểu những rủi ro pháp lý.
???? Đừng ngần ngại liên hệ các chuyên gia pháp luật để được hỗ trợ kịp thời và hiệu quả!
Nếu khách hàng có bất kỳ khó khăn, vướng mắc xin vui lòng liên hệ ngay với chúng tôi theo thông tin dưới đây để được tư vấn, hỗ trợ.
CÔNG TY LUẬT MẠNH THĂNG
Địa chỉ: Số 9 Nguyễn Cửu Đàm, Phường Tân Sơn Nhì, Quận Tân Phú, TP. HCM
Email: luatmanhthang09@gmail.com
Wedsite: luatmanhthang.vn
Hotline: 0909.528.082
- Bị tai nạn lao động có được trả lương? (04.04.2024)
- Bảo hiểm xe máy hết hạn phạt bao nhiêu tiền? (04.04.2024)
- Khi nhà thuê bị hỏng, người thuê nhà có được tự ý sửa chữa? (04.04.2024)
- Khi nào cha mẹ nuôi được yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi? (06.04.2024)
- Đương sự có được thay đổi lời khai trong quá trình giải quyết vụ án dân sự không? (06.04.2024)
- Người chưa thành niên có được làm chứng trong vụ án dân sự không? (06.04.2024)
- Vì sao nên mời luật sư tư vấn về hợp đồng thuê tài sản? (08.04.2024)
- Sống chung như vợ chồng có được hưởng thừa kế không? (08.04.2024)
- Người bị tạm giam oan có được bồi thường thiệt hại không? (08.04.2024)
- Có được hoãn chấp hành hình phạt tù đối với phụ nữ đang mang thai không? (08.04.2024)
- Bồi thường thiệt hại do tài sản cho mượn bị hư hỏng? (08.04.2024)
- Người vay nợ chết, nợ có đương nhiên hết? (09.04.2024)














